Thả cá giống

Cá ăn

Cho cá ăn

1. Phân bố

Trên thế giới: cá chình bố nhiều ở philippine, Nhật Bản, indonesia,malaysia ….v…v…

Ở Việt Nam: chủ yếu tự nhiên ở miền Trung, tập trung ở các sông thuộc tỉnh Quãng Ngãi, Hà Tĩnh , Thừa Thiên Huế, Bình Định, Kom Tum v.v.. thường gặp: cá chình mun, cá chình hoa,và vài loài cá chình khác .

2.Tập tính sinh trưởng

- Cá chình: anguilla marmorata ( chình bông)

- Cá chình là loài cá có tính thích ứng rộng với độ mặn, cá có thể sống được ở nước mặn, nước lợ, nước ngọt.

- Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày chui rúc trong hang, kẹt đá, dưới đáy ao, nơi có ánh sáng yếu, tối bò ra kiếm mồi ăn và di chuyển đi nơi khác.

- Phạm vi thích nhiệt rộng. Nhiệt độ từ 1 - 38oC cá có thể sống được, nhưng trên 16oC cá mới bắt mồi. Nhiệt độ sinh trưởng là 17 - 31oC thích hợp nhất là 20 - 28oC.

- Da và ruột cá có khả năng hô hấp, dưới 16o chỉ cần giữ cho da cá ẩm ướt là có thể sống được vài ngày. Trời mưa cá hoạt động rất khoẻ bò trườn lên bờ nơi có dòng nước chảy để tìm đường di chuyển .

- Cần hàm lượng oxygen hoà tan trong nước cao yêu cầu phải trên 4ppm là thích hợp cho sinh trưởng,nếu oxygen vượt quá 11 mg/l dễ sinh ra bệnh bọt khí.

- Thức ăn thiên nhiên:

Thức ăn thiên nhiên (Động vật, thực vật, vật vụn) Polychaetes (giun nhiều tơ), crustacean (giáp xác nhỏ) là những thức ăn thích hợp.

- Thức ăn phụ trội: Mực (squid) gia tăng sự lớn mạnh   

Cá chình trong thiên nhiên là loại ăn tạp thức ăn là tôm, cá con, động vật sống tầng đáy nhỏ và côn trùng  thủy sinh, khi còn nhỏ cá ăn động vật phù du nhóm Cladocera và giun ít tơ,

3. Đặc điểm hình thái, tập tính sống cá chình

- Cá chình có thân thon dài, lưng màu nâu, bụng trắng, đầu nhọn và dài.

- Da nhiều nhớt, có tác dụng hô hấp qua da.

- Vây lưng, vây hậu môn rất dài và nối liền với vây đuôi, vây ngực tròn ngắn, không có vây bụng.

- Phần lớn các loài cá chình ưa thích sinh sống trong các vùng nước nông hay ẩn mình dưới đáy , đôi khi trong các lỗ. Các lỗ này gọi là lỗ cá chình. Chỉ có họ Anguillidae là di chuyển vào vùng nước ngọt để sinh sống nhưng không sinh sản tại đó. Một vài loài cá chình sinh sống trong các vùng nước sâu (trong trường hợp họ Synaphobranchidae, chúng có thể xuống tới độ sâu 4.000 m) hoặc là những loài bơi lội tích cực (họNemichthyidae - tới độ sâu 500 m).

4. Sinh sản

Cá chình là loài cá di cư, cá mẹ đẻ ở biển sâu, cá con sau khi nở trôi dạt vào bờ ven biển, cửa sông, nơi cá bố mẹ xuất phát đi ra biển sinh sản ban đầu, và vào vùng nước ngọt sông suối kiếm mồi và lớn lên. Khi trưởng thành đến thời kỳ sinh sản cá lại di cư trở lại ra biển sâu để đẻ trứng.

Cá con mới nở hình lá liễu màu trắng thủy tinh, sau 165 ngày mới trôi dạt vào cửa sông. Trải qua nhiều biến thái hình thành cá chình màu trắng gọi là bạch tử, cá ngược dòng lớn hơn thay đổi sắc tố  tăng dần thành màu đen gọi là hắc tử.

Việc sinh sản nhân tạo cá chình đến nay vẩn chưa có ai nghiên cứu thành công, tất cả cá chình giống đều dựa vào khai thác từ tự nhiên ngoài cửa sông hoặc ven biển.

Ở nước ta cá chình phân bố từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận, nhiều nhất là đầm Châu Trúc Bình Ðịnh và sông Phú Yên, nơi này hằng năm cung cấp một lượng cá chình giống quý hiếm cho bà con nông dân các vùng  nuôi.

 Người làm giống có thể làm thay đổi tập tính cá chình như giảm sợ ánh sáng ,và cho ăn ban ngày mà không cần giảm ánh sáng , hay tiếng động bên ngoài, vv…

 

 
 

Chúng tôi ươm nuôi chỉ sử dụng thảo dược,

không sử dụng hóa chất và kháng sinh trong quá trình nuôi.